Tổng Hợp Các Thông Tin Từ Đầu Năm Mới Canh Dần
Xin tổng hợp các thông tin của giáo xứ từ đầu năm mới Canh Dần...
Hôm nay 17.02.2010, hòa với toàn thể Giáo Hội, Giáo xứ Đaminh Ba Chuông đã cử hành lễ Tro bước vào Mùa Chay thánh cách trang nghiêm.
Vì muốn cổ võ và khích lệ tâm tình này, và để đáp ứng số giáo dân đông đảo, giáo xứ quyết định tăng thêm thánh lễ thứ tư lúc 19giờ.
Với chủ đề trở về với Chúa, nhớ thân phận con người là bụi tro, “hãy xé lòng đừng xé áo”, “Đây là thời cứu độ”, và “đừng như bọn giả hình” các bài chia sẻ trong thánh lễ hôm nay đã được xoáy mạnh vào nhiều khía cạnh của đời sống tâm linh.
________________________________________________________________________
Giáo xứ Đaminh bước vào Mùa Chay

Hôm nay 17.02.2010, hòa với toàn thể Giáo Hội, Giáo xứ Đaminh Ba Chuông đã cử hành lễ Tro bước vào Mùa Chay thánh cách trang nghiêm.
Vì muốn cổ võ và khích lệ tâm tình này, và để đáp ứng số giáo dân đông đảo, giáo xứ quyết định tăng thêm thánh lễ thứ tư lúc 19giờ.
Với chủ đề trở về với Chúa, nhớ thân phận con người là bụi tro, “hãy xé lòng đừng xé áo”, “Đây là thời cứu độ”, và “đừng như bọn giả hình” các bài chia sẻ trong thánh lễ hôm nay đã được xoáy mạnh vào nhiều khía cạnh của đời sống tâm linh.

Trong thánh lễ tu viện lúc 5 giờ, cha bề trên phó Giuse Nguyễn Trọng Viễn đã nhắc nhở mọi người hãy nhớ tội mình đừng chỉ quan tâm đến tội người khác. Và để biết mình cần phải soi vào tấm gương là Đức Giêsu.

Câu kết trong bài chia sẻ của ngài trích từ tâm tình của thánh Âutinh: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con”. Qua lời tâm nguyện này, cha nhắc mọi người hãy sống mùa chay bằng tất cả tấm lòng của mình.

Thánh lễ 6 giờ, cha Giuse Đỗ Trung Thành lại mượn hình ảnh ngôn sứ Gioel để diễn giải ý nghĩa ngày lễ. Theo cha, vị ngôn sứ này, trước khi cao rao lời cảnh báo của Thiên Chúa thì chính ông phải sống những lời cảnh báo ấy. Nếu anh chưa sống đời sống ngay chính thì lời của anh sẽ là chứng cứ chống lại anh.

Thánh lễ 17g30 chiều nay đông đột xuất, giáo dân ngồi kín cả sân nhà thờ. Cha bề trên chánh xứ Phanxicô Đào Trung Hiệu giới thiệu mùa Chay là mùa xuân cứu độ. Mùa Xuân Địa đàng đã bị phai mờ vì tội của con người, thì Đức Kitô đem đến cho tro bụi con người mùa xuân mới. Đó cũng là điều thánh Phaolô nói trong bài đọc II, “Đây là thời thi ân, đây là ngày cứu độ”. Rồi khởi từ chuyện cảnh giác ẩm thực ngày xuân, cha kêu mời mọi người sống nội tâm và đích thực trước nhan Cha trên trời theo nội dung bài tin mừng.

Và thánh lễ 19giờ, số giáo dân cũng khá đông đảo. Cha Giuse Phạm Quốc Văn đi trực tiếp ý nghĩa của xức tro. Không chỉ là việc bỏ một ít tro lên đầu, nhưng hãy xức cả trên mắt để có cái nhìn yêu thương của Thiên Chúa, trên môi miệng để có thể nói lên lời thân ái chân thành, thay cho những lời cay độc. Và xức nơi trái tim để thuộc trọn về Chúa, và từ đấy trái tuôn tràn những suy nghĩ và cử chỉ yêu thương…

Ngày chay rồi cũng qua, hy vọng những lời chia sẻ chân tình của các linh mục để lại chút âm ba trong lòng người. Vì Thứ Tư lễ tro chỉ là một khởi sự cho một Mùa ân sủng 40 ngày tiến đến lễ Vượt Qua.

Đời sống tâm linh và đức tin nếu không có chay tinh và khổ luyện, ta dễ bị lạc vào những nẻo đường quanh co của sự chết. Nhờ chay tinh và sám hối, ý chí là lý trí sẽ được hướng dẫn đi vào quỹ đạo của tình yêu.

Đặc biệt ngay từ hôm nay, giáo hữu đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Hồng Y trong việc chia sẻ mùa chay, để góp phần chia sẻ những mất mát thương đau của bà con tại Haiti, vừa gánh chịu cơn thịnh nộ của thiên nhiên trong những ngày qua.

Có một điều đáng nói, là dù lễ tro rơi vào mùng 4 tết Canh Dần, thế mà các thánh lễ có rất đông bà con tham dự. Một tín hiệu vui khởi đầu cho mùa tím này.
Cầu mong cho những ngày tới trong mùa Chay thánh, mỗi người sẽ nhận thật nhiều ơn của Thiên Chúa, đỉnh cao là ngày lễ Phục sinh.

Quang cảnh ngoài sân lễ 17g30
Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI chúc các dân tộc Á châu
duy trì truyền thống gia đình nhân dịp Tết

Cũng như những năm trước đây, nhân dịp Đầu năm Âm lịch, Đức Thánh Cha đã gửi lời chào thăm các dân tộc Ấ đông trong buổi đọc kinh Truyền tin ngày 14.02.2010 tại quảng trường thánh Phêrô, sau khi ban phép lành Tòa thánh, với những lời như sau:
Các bạn thân mến. Tại vài quốc gia Á châu, tôi nghĩ đến nước Trung Hoa và Việt nam, và tại nhiều cộng đồng rải rắc khắp nơi trên thế giới, hôm nay là ngày đầu năm Âm lịch. Đây là đại lễ, cơ hội độc đáo để thắt chặt mối tình trong gia đình và giữa các thế hệ. Tôi cầu chúc cho tất cả mọi người biết duy trì và tăng cường gia sản phong phú của các giá trị tinh thần và luân lý đã đâm rễ sâu trong nền văn hoá của các dân tộc.
Bài huấn dụ về “các mối phúc”
Như mọi người đã biết, bài giảng các mối phúc trong Tin mừng thánh Luca có vài nét đặc trưng khác với thánh Matthêu. Điều khác biệt thứ nhất là về địa điểm. Trong Tin mừng theo thánh Matthêu, bài giảng được đặt ở trên núi, nơi Thiên Chúa mặc khải ý định của Ngài giống như cho ông Môisen trước đây trong Cựu ước; còn thánh Luca thì muốn dành núi làm nơi cầu nguyện, vì thế khi rao giảng sứ điệp các mối phúc thì Chúa Giêsu xuống núi đến bình nguyên. Sự khác biệt nữa là thánh Matthêu nói đến tám mối phúc, còn thánh Luca nói đến bốn “chân phúc” và bốn cái “vô phúc”. Tất cả được nhìn dưới nhãn giới của “công lý của Thiên Chúa”, khác xa với công lý của người đời, bởi vì là công lý của tình thương. Các môn đệ của Chúa Giêsu được mời gọi thực thi công lý này hướng đến những người nghèo đói, những người sống bên lề xã hội.... Phục vụ công lý của Thiên Chúa cũng là đề tài của sứ điệp Mùa Bốn mươi (quen gọi là mùa chay) bắt đầu từ thứ tư sắp đến.
Sau đây là nguyên văn bài huấn dụ.
Năm phụng vụ là một lộ trình đức tin mà Giáo hội thực hiện dưới sự hướng dẫn của Đức Trinh nữ Maria. Trong các chúa nhật Thường niên, hành trình của năm nay được đánh dấu bởi các bài đọc Tin mừng thánh Luca. Hôm nay chúng ta được dẫn đến “bình nguyên” (Lc. 6, 17), nơi mà Chúa Giêsu dừng lại cùng với nhóm Mười Hai, và trước mặt là đám đông gồm các môn đệ khác và dân chúng từ khắp nơi đến nghe Chúa giảng. Bài công bố các mối phúc được đặt trong bối cảnh đó (Lc 6,20-26; x. Mt 5,1-12).
Nhìn các môn đệ, Chúa nói: “Phúc cho các bạn, những người nghèo. .. phúc cho các bạn, những người đói … phúc cho các bạn đang khóc than … phúc cho các bạn … khi bị người đời thoá mạ” vì tôi. Tại sao họ được gọi là có phúc? Bởi vì công lý của Thiên Chúa sẽ làm cho họ được sung túc, hoan hỉ, đền bù các lời bêu xấu, nói tắt một lời, bởi vì Thiên Chúa đón tiếp họ vào vương quốc của ngài ngay từ bây giờ. Các mối phúc đặt nền tảng trên công lý của Thiên Chúa, nâng dậy kẻ bị hạ nhục cách bất công và triệt hạ kẻ tự tâng cao (x. Lc 14,11).
Thực vậy, Tin mừng thánh Luca, sau bốn mối phúc đã thêm bốn lời cảnh cáo: “khốn cho các người, những kẻ giàu có … khốn cho các người, những kẻ đang no nê … khốn cho các người, những kẻ đang cười” và “khốn cho những kẻ được thiên hạ tâng bốc”, bởi vì, như Chúa nói, tình thế sẽ bị lật ngược, kẻ ở cuối sẽ lên đầu và kẻ ở đầu sẽ trở thành cuối (x. Lc 13,30).
Công lý và các phúc này được thực hiện trong “Vương quốc của trời”, hay “Vương quốc của Chúa”, tuy sẽ được thành tựu vào thời tận cùng nhưng đã hiện hữu ngay trong lịch sử. Ở đâu mà người nghèo được an ủi và được đưa vào bàn tiệc của cuộc sống, thì ở công lý của Thiên Chúa được biểu lộ. Đây là một nghĩa vụ mà các môn đệ của Chúa được mời gọi thực thi ngay trong xã hội hiện nay. Tôi nghĩ đến nhà trọ của cơ quan Caritas Roma ở nhà ga Termini mà tôi đến thăm viếng sáng nay: tôi hết lòng khuyến khích những ai đang hoạt động trong cơ sở đáng quý này, và những ai trên khắp thế giới đang tình nguyện dấn thân trong các chương trình của công lý và bác ái.
Tôi đã dành sứ điệp Mùa Chay năm nay, bắt đầu từ thứ tư lễ tro sắp đến, cho đề tài công lý. Vì thế hôm nay tôi muốn trao cho anh chị em sứ điệp này và mời hãy đọc và suy nghĩ. Tin Mừng Chúa Kitô đáp ứng cách tích cực lòng khao khát công lý của con nguời, nhưng với một cách thức bất ngờ và vô lường. Chúa Giêsu không đề ra một cuộc cách mạng chính trị xã hội, nhưng là cuộc cách mạng tình thương mà ngài đích thân thực hành bằng Thập giá và cuộc Phục sinh của mình. Các mối phúc được đặt nền ở trên đó, mở ra một viễn tượng mới về công lý, khởi đi từ cuộc Phục sinh, nhờ vậy mà chúng ta có thể trở nên công chính và kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn.
Các bạn thân mến, giờ đây chúng ta hãy hướng về Đức Trinh nữ Maria. Mọi thế hệ tuyên bố Mẹ thật là có phúc, bởi vì đã tin vào Tin mừng mà Con của Mẹ đã loan báo (x. Lc 1,45,48). Chúng ta hãy để cho Mẹ dìu dắt trên hành trình mùa Bốn Mươi, ngõ hầu chúng ta được giải thoát khỏi cái ảo giác tự mãn, và biết nhìn nhận rằng chúng ta cần đến Thiên Chúa, cần đến lòng thương xót của Ngài, và nhờ vậy, chúng ta được gia nhập Vương quốc công lý, tình thương và bình an.
Bình Hòa
________________________________________________________________________
Sứ điệp Mùa Chay 2010 của ĐTC Benêđictô XVI
“Sự công chính của Thiên Chúa
đã được thể hiện nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Ki-tô”
(x. Rm 3, 21-22)
Anh Chị Em thân mến!
Mỗi năm, vào dịp Mùa Chay, Giáo Hội lại mời gọi ta chân thành xem xét lại cuộc sống của mình dưới ánh sáng những lời dạy của Tin Mừng. Năm nay, tôi muốn đề nghị với anh chị em một vài suy tư về chủ đề lớn công bằng, bắt đầu từ khẳng định của Phao-lô:”Sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Ki-tô" (x. Rm 3, 21-22).
Công bằng: “dare cuique suum” (trả cho mỗi người những gì thuộc về người đó)
Trước hết, tôi muốn xem xét ý nghĩa của từ ngữ “công bằng”, trong sự sử dụng thông thường ngụ ý “trả cho mỗi người những gì thuộc về người đó", theo thuật ngữ nổi tiếng của Ulpianus, một luật gia La Mã ở thế kỷ thứ ba. Tuy nhiên, trong thực tế, định nghĩa cổ điển này không nêu rõ những gì “thuộc về người đó” cần được trả cho mỗi người. Điều mà con người cần nhất thì pháp luật lại không thể đảm bảo được cho người đó. Để sống cuộc sống đầy đủ, cần thiết một cái gì đó sâu sắc hơn, chỉ có thể được cấp như một món quà: ta có thể nói rằng con người sống bởi tình yêu mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể thông ban bởi vì Người đã tạo ra con người theo hình ảnh và họa ảnh của Người.
Của cải vật chất chắc chắn là hữu ích và cần thiết – thật vậy, chính Chúa Giêsu đã chăm lo chữa các bệnh nhân, đã nuôi các đám đông đi theo Người và, chắc chắn, Người lên án sự dửng dưng mà ngày nay vẫn còn khiến cho hàng trăm triệu người phải chết vì thiếu thực phẩm, nước và thuốc men – thế nhưng, đức công bằng “phân phối” không trả cho con người toàn bộ những gì “thuộc về người đó”. Con người ta vốn đã cần cơm bánh, thì lại càng cần Thiên Chúa gấp bội. Thánh Augustinô nhận xét: “nếu công bằng là nhân đức trả cho mỗi người những gì thuộc về người đó… thì công bằng của con người ở đâu, khi mà con người đào thoát khỏi Thiên Chúa đích thực?” (De Civitate Dei, XIX, 21).
Nguyên nhân của Bất công là gì?
Thánh sử Mác-cô chép lại cho ta những lời sau đây của Chúa Giêsu trong cuộc tranh luận vào thời đó về những gì là tinh sạch và những gì là ô uế: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu” (Mc 7, 14-15; 20-21).
Vượt quá vấn đề tức thời về thức ăn, ta có thể tìm thấy nơi phản ứng của những người Biệt phái một cám dỗ thường xuyên nơi con người: chỉ ra nguồn gốc của sự dữ nơi một nguyên nhân bên ngoài. Nhiều ý thức hệ hiện đại tận căn gốc giả định trước rằng: vì sự bất công đến “từ bên ngoài”, nên để cho công bằng ngự trị, chỉ cần loại bỏ các nguyên nhân bên ngoài ngăn cản việc thực hiện công bằng là đủ. Cách suy nghĩ này – Chúa Giêsu cảnh báo – là ngây thơ và thiển cận. Sự bất công, hậu quả của sự dữ, không chỉ đến từ những nguyên nhân bên ngoài; nguồn gốc bất công nằm trong tâm hồn con người, nơi tìm thấy những hạt giống của một sự cộng tác bí ẩn với sự dữ. Tác giả Thánh vịnh cay đắng thừa nhận điều này: “Người thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 51,7).
Thậy vậy, con người trở nên yếu đuối bởi một ảnh hưởng mãnh liệt, làm thương tổn khả năng hiệp thông với người khác. Tự bản chất, vốn mở ra cho sự chia sẻ tự do, con người lại khám phá nơi mình một trọng lực lạ làm cho con người khép kín nơi chính mình, và khẳng định mình ở trên và đối kháng với những người khác: đây chính là sự ích kỷ, hậu quả của tội nguyên tổ. A-đam và E-và, bị sự dối trá của Satan quyến rũ, chụp lấy trái cây huyền bí bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa, đã thay thế lôgích tin tưởng vào Tình Yêu bằng lôgích nghi ngờ và cạnh tranh; thay thế lôgích đón nhận và mong chờ trong sự tin tưởng nơi Ai Khác bằng lôgích cướp đoạt và tự tung tự tác (x. Stk 3, 1-6) để rồi cảm nghiệm hậu quả là một cảm giác lo âu và bất an. Làm thế nào con người có thể tự giải thoát khỏi xu hướng ích kỷ này và cởi mở bản thân cho tình yêu?
Công bằng và Sedaqah
Tại tâm điểm sự khôn ngoan của Ít-ra-en, ta tìm ra một mối liên hệ sâu xa giữa niềm tin vào vị Thiên Chúa “nâng kẻ yếu đuối lên từ bụi đất” (Tv 113, 7) và sự công bằng đối với cận nhân. Từ trong tiếng Híp-ri chỉ nhân đức công bằng, sedaqah, diễn tả nhân đức này một cách tuyệt vời. Quả thế, sedaqah, một mặt, nghĩa là chấp nhận hoàn toàn ý muốn Thiên Chúa của Ít-ra-en; mặt khác, sự công bằng đối với cận nhân (x. Xh 20, 12-17), đặc biệt là đối với người nghèo khổ, ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa (x. Đnl 10, 18-19). Nhưng hai ý nghĩa này được liên kết với nhau bời vì, đối với người Ít-ra-en, cho người nghèo chỉ là hoàn lại những gì họ nợ Thiên Chúa, Đấng chạnh thương trước sự khốn quẫn của dân Người.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà việc ban Lề Luật cho Môisê, ở núi Sinai, đã diễn ra sau cuộc vượt qua Biển Đỏ. Việc lắng nghe Lề Luật tiên vàn đòi hỏi phải có niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng đầu tiên đã “nghe tiếng kêu” của dân Người và đã “xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai-cập” (x. Xh 3, 8). Thiên Chúa lưu tâm đến tiếng kêu của những người cùng khốn và, ngược lại, đòi hỏi được lắng nghe: Người đòi công lý cho người nghèo (x. Hc 4, 4-5.8-9), ngoại kiều (x.Xh 22, 20), người nô lệ (x. 15, 12-18). Để bước vào trong sự công bằng, cần phải rời khỏi ảo tưởng tự mãn, sự khép kín sâu xa, chính là nguồn gốc bất công. Nói cách khác, điều cần thiết là một cuộc “xuất hành” còn sâu xa hơn cả cuộc xuất hành mà Thiên Chúa đã thực hiện với Môisê, một cuộc giải phóng tâm hồn, mà Lề Luật tự sức nó vô phương thực hiện. Như thế, liệu con người có còn một niềm hy vọng nào cho công lý không?
Chúa Kitô, Công lý của Thiên Chúa
Tin Mừng Kitô giáo trả lời là có trước sự khao khát công lý của con người, như Thánh Phaolô khẳng định trong Thư gửi tín hữu Rôma: “Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật… người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Ki-tô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai. Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin” (3, 21-25).
Thế thì, công lý của Chúa Kitô đâu? Trước tiên, đó là một công lý xuất phát từ ân sủng, nơi con người không tự cứu độ, không tự cứu chữa cho chính mình và cứu chữa những người khác. Sự kiện việc thục tội được thực hiện trong “máu” của Chúa Kitô có nghĩa rằng những lễ hy sinh của con người không giải thoát con người khỏi gánh nặng của những lỗi lầm của mình, nhưng nhờ hành vi yêu thương của Thiên Chúa là Đấng tự cởi mở cho đến tột độ, cho đến độ mang nơi bản thân Người “lời nguyền” đã được dành cho con người để trả lại cho con người “phúc lành” của Thiên Chúa (x. Gl 3, 13-14).
Nhưng điều này gây nên ngay lập tức một sự phản đối: đây là loại công lý nào khi mà người công chính chết cho kẻ có tội và kẻ có tội lại lãnh nhận phúc lành thuộc về người công chính? Phải chăng điều này không có nghĩa là mỗi người lãnh nhận cái trái ngược với “những gì thuộc về người đó”? Trên thực tế, ở đây, ta khám phá ra công lý của Thiên Chúa khác biệt sâu xa với công lý của con người. Thiên Chúa đã trả thay cho ta cái giá trao đổi nơi người Con của Người, một giá thực sự quá mức. Trước công lý của Thập Giá, con người có thể nổi loạn vì công lý này cho thấy con người không phải là một hữu thể tự túc, nhưng cần đến Một Ai Khác để tự thể hiện bản thân một cách trọn vẹn. Hoán cải theo Chúa Kitô, tin vào Tin Mừng, cuối cùng ra nghĩa là thế này: thoát ra khỏi cái ảo tưởng tự mãn, khám phá và chấp nhận sự cần thiết của mình – cần thiết người khác và Thiên Chúa, sự cần thiết ơn tha thứ của Người và tình bằng hữu với Người.
Như thế, ta hiểu rằng đức tin hoàn toàn không phải là điều gì đó tự nhiên, dễ dãi, hiển nhiên: cần khiêm tốn để chấp nhận rằng Một Ai Khác giải thoát tôi khỏi “cái tôi”, ban cho tôi cách nhưng không “cái của Người đó”. Điều này được thực hiện một cách đặc biệt trong các bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Nhờ hành động của Chúa Kitô, ta có thể bước vào trong một công lý “lớn nhất”, công lý của tình yêu (x. Rm 13, 8-10), công lý mà, trong mọi trường hợp, đều tự coi mình là người mang nợ hơn là chủ nợ, bởi vì đã lãnh nhận nhiều hơn những gì mình có thể mong đợi. Được củng cố bằng chính kinh nghiệm này, người Kitô hữu được mời gọi đóng góp vào việc xây dựng những xã hội công bằng nơi mà tất cả mọi người đều lãnh nhận cái cần thiết để sống theo phẩm giá đích thực của nhân vị và là nơi mà công bằng được sinh động hóa bởi tình yêu.
Anh chị em thân mến, Mùa Chay lên đến đỉnh cao trong Tam nhật Vượt qua, trong đó, cả năm nay nữa, ta sẽ cử hành mầu nhiệm công lý của Thiên Chúa – sự tròn đầy đức ái, sự trao ban, ơn cứu độ. Ước gì thời gian sám hối này, đối với mỗi người Kitô hữu, là một khoản thời gian hoán cải đích thực và hiểu biết sâu xa mầu nhiệm Chúa Kitô đã đến để thực hiện mọi công lý. Với những tâm tình này, tôi thân ái ban Phép lành Tông đồ cho tất cả anh chị em.
Từ Vatican, 30 tháng 10 năm 2009
+ ĐGH Benêđictô XVI
Thánh Lễ Từ Đường mùng hai Tết
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Hòa chung tâm tình với Giáo hội Việt Nam, các thánh lễ mùng hai Tết Canh Dần (15.02.2010) đã diễn ra trong bầu khí ấm cúng gia đình. Đặc biệt là thánh lễ lúc 6 giờ sáng tại từ đường Phục Sinh với sự hiện diện của đông đảo anh chị em tín hữu cùng với cha bề trên chánh xứ, dâng lễ cầu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và thân hữu…
Khởi đầu thánh lễ, cha Chủ tế và cha Đaminh Trần Bình Tiên đã thay mặt cộng đoàn niệm hương trước bàn thờ và trước anh linh các vị tiền bối.

Cha xác định từ đường chính là một nghĩa trang của giáo xứ vì đã có hàng ngàn tro cốt những người thân được gửi tại đây. “Sống tết, chết giỗ”. Đó là câu thành ngữ quen thuộc của bất cứ người dân Việt nào, diễn tả tấm lòng của những người con cháu đối với tổ tiên và các bậc sinh thành ra mình.


Trong bài giảng cha Phanxicô đã trình bày cách sâu sắc về đạo hiếu của người Việt : Mỗi gia đình dù nghèo khổ đến đâu cũng dành một chỗ trang trọng nhất làm bàn thờ tổ tiên ông bà. Nền tảng của Đạo Hiếu là “Muôn vật gốc ở Trời, con người gốc ở Tổ”, “Hiếu là cái gốc của Đức”. Người ta có một trăm nết nhưng hàng đầu là hiếu. Chưa từng có người hiếu thảo nào lại bất trung, bất nghĩa, hoặc bất nhân.

Theo cha, hiếu phải đi với thảo, lòng yêu mến cha mẹ phải biểu lộ qua hành động nhưng trước hết là cần một tấm lòng. Tôn kính cha mẹ lúc còn sống. Thờ phụng cha mẹ khi các ngài qua đời. Tuy nhiên, khởi từ tâm thức Đạo Hiếu của người Việt, đức tin cho chúng ta một viễn tượng rộng lớn hơn : toàn thể giáo hội và cả nhân loại là một gia đình con của Cha trên trời.

Chính vì thế kính nhớ tổ tiên, chúng ta cũng kính nhớ tất cả những vị tiền bối đã thành công, đặc biệt là các thánh Tử đạo Việt Nam, mà ngày hay chúng ta được hưởng nhờ phúc ấm của các ngài.

Như vậy, ý nghĩa ngày mùng hai tết không chỉ là tưởng nhớ những người đã khuất, mà còn là cơ hội nhắc nhau để kính yêu cha mẹ đang sống bên mình, nhắc nhau phát huy gia phong cha ông đã để lại, là trách nhiệm với con cháu và thế hệ tương lai. Đó cũng là giáo huấn của bài đọc một trong sách Huấn Ca : “Chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân và cha ông của chúng ta qua các thế hệ… Công đức của các ngài không chìm vào quên lãng… nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành … và danh thơm mãi lưu truyền

Cha cũng nhắc nhớ đến nội dung bài hát “Bông hồng cài áo”… “cho những ai đang còn mẹ… để đời vui sướng hơn”, … “nếu mai ngày mẹ hiền có mất đi….” và vì thế hãy nói ngay ngày hôm nay “Hãy nói với mẹ hiền, nói gì ? nói rằng con yêu mẹ mẹ ơi”. Kẻo rồi như lời ca dao xưa từng nhắc nhở :
Còn sống thì chẳng cho ăn
Đến khi nằm xuống làm văn tế ruồi

Lời ca của ca đoàn Đaminh cùng với cộng đoàn hôm nay bay vút lên trời cao, thấm sâu vào lòng người, tâm tình đơn sơ man mát của những người con ngoan, dâng lên Cha trên trời để cầu cho cha mẹ dưới trần thế.

Cộng đoàn đi viếng và đọc kinh cho thân nhân


WGPSG -- Khi thời khắc Giao thừa Canh Dần 2010 sắp điểm, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, một lần nữa, long trọng và chân thành gửi đến mọi người Lời Chúc Xuân tha thiết của ngài:
“Nhân dịp Xuân Canh Dần sắp đến, tôi cầu chúc cho mọi người, mọi gia đình, các cộng đoàn tín hữu: một Năm Mới an bình hạnh phúc và một Năm Thánh chứa chan hồng ân và tình thương của Chúa.
Và để được như vậy, tôi nghĩ rằng: mọi gia đình, mọi cộng đoàn tín hữu cần chung sức cùng nhau xây dựng ba mối tương quan căn bản của đạo làm người:
- một là, thể hiện lòng thảo kính đối với Chúa là Cha trên trời cùng ông bà tổ tiên và các tiền nhân;
- hai là, phát huy tình huynh đệ hiệp nhất đối với nhau trong cộng đồng dân Chúa là anh em đồng đạo;
- và ba là, mở rộng tình huynh đệ liên đới đối với mọi người trong cộng đồng xã hội, là anh em đồng bào và đồng loại.
Xin Chúa chúc lành năm mới cho tất cả anh chị em.
